chữ nhẫn trong phật giáo

Chữ Nhẫn vốn được thể hiện từ xưa đến nay ở khắp nơi trên thế giới. Nhẫn với mục đích tích cực hiền thiện thì không thể gọi là hèn nhát, tiêu cực. Chữ Nhẫn trong Phật giáo như đã nói là trí tuệ, là từ bi. Và mang lại lời dạy của nhà phật về cuộc sống của con người. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về ý nghĩa của chữ nhẫn để hiểu hơn về lời dạy sâu sắc này.

Ý nghĩa về sự chịu đựng 

Nhẫn nghĩa là chịu đựng, nhường nhịn, cũng được hiểu là nhẫn nhục. Nhục là chịu khuất phục, hổ thẹn vì thấp hèn. Nhẫn nhục được xem là đồng nghĩa với kiên nhẫn, nhẫn nại, kiên trì, nỗ lực chịu đựng, chịu đựng lâu bền.
Chữ nhẫn trong phật giáo, nhẫn hay nhẫn nhục được nâng cao ý nghĩa đến tối đa. Nhẫn nhục (Sanskrit: Ksanti, Pali: Khanti, tiếng Hán: Nhẫn, An Nhẫn), nhằm chỉ cái tâm an tịnh trước mọi sự sỉ nhục, gây hại. Nhẫn nhục được đề cập trong rất nhiều kinh điển Phật giáo.
Kinh Duy Ma Cật nói đến ba loại nhẫn, chịu đựng, an nhiên về thân, khẩu, ý; Bị hành hạ, bệnh tật, nóng lạnh… (thân); không thốt lời ác khi bị làm nhục, bị hành hạ (khẩu); không giữ sự căm hận, oán thù trong tâm (ý).

Ba tính chất của chữ nhẫn 

Luận Du-già Sư Địa nêu ba tính chất của chữ Nhẫn trong phật giáo; Không tức giận, không kết oán thù và không giữ ý xấu trong lòng. Kinh Giải Thâm Mật phân biệt ba ý nghĩa của Nhẫn: Không oán hận những ai gây hại cho mình (oán hại nhẫn), chịu đựng mọi sự khó khăn, đau khổ, hành hạ (an thọ khổ nhẫn) và thấy rõ bản chất của các sự vật (đế sát pháp nhẫn).

Hai loại chữ nhẫn 

Luận Đại Trí Độ phân biệt hai loại chữ nhẫn trong phật giáo: chấp nhận, không tức giận và vẫn thương yêu tất cả những ai gây hại cho mình (chúng sinh nhẫn); chấp nhận nguyên lý tất cả pháp đều không sinh không diệt, do đó tâm không dao động.

Kinh Bồ-tát Địa Trí nêu hai loại nhẫn: chịu đựng các thứ khổ về thân như bệnh tật, bị hành hạ (an thọ khổ nhẫn) và quán sát tính không, như huyễn của mọi sự vật, do đó tâm an nhiên tự tại (quán sát pháp nhẫn).

Call Now